Quan hệ sở hữu
Người hay vật này thuộc về ai hoặc gắn với ai, với cái gì?
Ý nghĩa
Quan hệ sở hữu cho biết người hay vật thuộc về ai hoặc gắn bó với ai, với cái gì. Quan hệ này có thể nối một đồ vật với chủ của nó, một đứa trẻ với cha mẹ, hoặc một cuốn sách với tác giả. Các ngôn ngữ dùng phần gắn thêm vào từ, từ riêng hoặc trật tự từ; có ngôn ngữ không có phần gắn thêm để chỉ quan hệ sở hữu. Bộ phận và toàn thể chú trọng các phần hoặc thành viên, còn Quan hệ sở hữu bao gồm cả việc sở hữu và những mối liên hệ gần gũi khác.
Cách nhận biết
Tìm mối liên hệ cho biết một người hay vật là của ai hoặc gắn bó với ai, kể cả khi không có ai thật sự sở hữu người hay vật đó.
Trong ngôn ngữ mẹ đẻ của Bạn
Tiếng Việt đặt của giữa vật được sở hữu và người sở hữu hoặc người có quan hệ gần gũi với vật đó. Với những quan hệ gần gũi, nhất là quan hệ gia đình và nhà ở, từ chỉ người có thể đứng ngay sau danh từ mà không cần của. Để nói một vật thuộc về ai, tiếng Việt còn dùng là của.
Đây là chiếc xe đạp của Lan.
Nhà tôi ở gần chợ.
Tôi đứng ngay sau nhà để chỉ người sở hữu, không có của ở giữa.
Cái ô này là của anh Nam.
Trong ngôn ngữ Bạn đang học
Tiếng Anh thường đặt người sở hữu trước danh từ, như my bag hoặc Emma's bag. Các dạng mine và hers đứng một mình, không có danh từ theo sau. Of nối nhiều mối liên hệ khác, như trong the name of the street. Have diễn đạt quan hệ sở hữu trong câu, như I have a bike.
This is my seat.
Đây là chỗ ngồi của tôi.
My đứng trước danh từ seat; không dùng the cùng với my.
Emma's brother lives nearby.
Anh trai của Emma sống gần đây.
's chỉ quan hệ gia đình, không phải việc sở hữu một người.
That blue bag is mine.
Chiếc túi màu xanh kia là của tôi.
Mine đứng một mình, không có danh từ theo sau.
Tiếng Việt thường đặt người sở hữu sau vật, còn tiếng Anh đặt my, your hoặc Emma's trước danh từ. Của tôi có thể dùng cả sau danh từ lẫn trong câu nói một vật là của mình, nhưng tiếng Anh phân biệt my với mine. My phải có danh từ theo sau; mine đứng một mình: *This bag is my. → This bag is mine.